Thứ Bảy, 21 tháng 2, 2015

Răng khểnh



(tặng cô bé có chiếc răng mọc lệch)




Răng khểnh à, răng khểnh ơi.
Lòng ta xao xuyến một thời hoa niên.
Cái thời áo trắng trinh nguyên.
Nhí nha nhí nhảnh hồn nhiên đến trường.
Có gì đáng để tơ vương.
Chiếc răng mọc lệch bất thường vậy thôi.

Lạ chưa! Sao dạ bồi hồi.
Cái răng lấp ló vành môi điệu đà.
Thì rằng… mặc kệ người ta.
Thắc tha thắc thỏm vào ra nỗi gì.
Tại nhớ… miệng cười mỉm chi.
Răng chênh vênh cứ trơ lì đưa ra.

Răng khểnh ơi, răng khểnh à.
Bờ môi chúm chím kiêu sa mỹ miều.
Nụ cười lấp lánh nắng chiều.
Như ai thắt sợi chỉ điều vào thơ.
Âm thầm ta dệt mối tơ.
Biết chăng có kẻ đang ngờ nghệch yêu.

Thế rồi chiều lại qua chiều.
Hè đi, thu đến hắt hiu lá vàng.
Thế rồi… tỉnh giấc mơ hoang.
Người về viễn xứ, ta tàn mộng hoa.
Tình bay theo áng mây xa.
Đành gom chút nắng chiều tà rơi rơi…


Răng khểnh à, răng khểnh ơi!
Làm ta ngơ ngẩn một thời thanh niên.
Ta đi khắp nẻo trăm miền.
Vẫn hoài nhớ nhỏ láng giềng năm xưa.
Xoay vần bao cuộc nắng mưa.
Hỏi người thuở ấy răng thừa còn không?

Ngô Chí Trung.

Thứ Tư, 18 tháng 2, 2015

Xuân tha hương



(Gởi người xa xứ)

Lắng sâu khoảnh khắc giao thừa.
Nghe thời gian tiễn năm xưa lên đường.
Xuân này biền biệt cố hương.
Hỏi nơi đất khách phố phường vui không?
Quê nhà chín nhớ mười mong.
Người phương xa có ngóng trông nẻo về?
Có thèm tắm nước sông quê?
Ướt mèm kỷ niệm ngô nghê một thời.
Dòng sông vẫn chảy đầy vơi.
Lăn tăn nhịp sóng ru lời tha hương.
Quê cha thăm thẳm mờ sương.
Nỗi niềm viễn xứ dặm trường miên man.
Gởi người một nhánh mai vàng.
Kèm theo chút nắng rộn ràng sắc xuân.
Dặn lòng thôi chớ bâng khuâng.
Bụi trần mấy lớp phong trần dày thêm.
Đường đời chân cứng đá mềm.
Nao nao nỗi nhớ từng đêm tím bầm.
Ai nơi đất khách xa xăm.
Tha phương khuất nẻo mù tăm cuối đường.
Mai vàng ấm góc trời thương.
Người xa xứ nhớ quê hương thì về.


Ngô Chí Trung
Đêm giao thừa Ất Mùi 2015.
   18-02-2015 dương lịch
(Đã in trong tập thơ Ươm Hoa, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn ,tháng 4/ 2017)




Thứ Hai, 16 tháng 2, 2015

Ông Đồ thời nay




Các báo đưa tin: mỗi năm Tết đến xuân về, "phố ông đồ" (khu vực Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội) lại tấp nập cảnh người cho chữ, kẻ xin chữ.

Kết quả cuộc sát hạch đầu tiên về trình độ thư pháp của các ông Đồ tại Văn miếu-Quốc Tử giám Hà Nội vừa qua đã đặt ra một câu chuyện khá bi hài. Có người không biết cách viết chữ nho đúng phương pháp . Thậm chí có người không biết chữ nho (phải tra từ điển); hoặc có người không thuộc chữ phải lận phao, “quay cóp”…

70% các ông Đồ đã “thi trượt” trong cuộc sát hạch này. Điều này cũng đồng nghĩa với việc có tới 70% số ông Đồ cho chữ dịp Xuân mới ở Văn Miếu-Quốc Tử giám không đạt chuẩn. Tức là viết sai chữ, viết không đẹp, thậm chí không đủ trình độ năng lực để cho chữ trong dịp Xuân mới.

Nét chữ là nét người và việc xin chữ-cho chữ đầu năm mới cũng có thể hiểu là việc xin và nhận tri thức, xin Lộc mới và may mắn.

Chính vì thế, việc có tới 70% các ông Đồ “thi rớt” trong cuộc thi sát hạch khiến không ít người trong chúng ta phải băn khoăn. Với kết quả thi sát hạch thấp như thế, thì liệu các ông Đồ có thể cho chữ. Và liệu người dân có thể tin tưởng xin chữ-xin tri thức các ông Đồ dịp Tết đến Xuân về hay không?

Vậy xin có thơ rằng:

Ông Đồ thời nay



Ông Đồ xưa của Vũ Đình Liên (*)
Học vấn uyên thâm đạo thánh hiền.
Mỗi năm Tết đến hoa đào nở.
Bày hàng cho chữ dịp tân niên.

Nho học gặp khi đã thoái trào.
Khiến dân hoài cổ chạnh niềm đau.
Mỗi năm một vắng người thuê viết.
Giấy đỏ buồn không thắm mực tàu.

Thời nay, mỗi độ hoa đào nở.
Bỗng nhiên gặp những “cụ đồ già”.
Bày biện mực tàu, trưng giấy đỏ.
Xôn xao bán chữ cho người ta.

Người đi xin chữ vào thuê viết.
Xuýt xoa, tấm tắc ngợi khen tài.
Mấy ai để ý đâu mà biết.
Ông đồ viết đúng hay là sai.

Lần đầu sát hạch kiểm trình độ.
Phân định vàng thau, chọn thực tài.
Mười người rớt bảy. Ôi!... Cơ khổ!
Ông đồ quay cóp! Chuyện bi hài.

Đến hẹn, xuân sang đào vẫn nở.
Tội nghiệp làm sao “ông Đồ xưa”!
Từ khi lộ mặt ông,… đồ rởm.
Chẳng biết hành nghề đâu bây giờ?



Ngô Chí Trung
Nha Mân, 28 tháng chạp Giáp Ngọ (2014).

(*) Bài thơ “Ông Đồ” của nhà thơ Vũ Đình Liên.

ảnh trên: Ông Đồ-thơ Vũ Đình Liên
ảnh dưới: Ông Đồ quay cóp

Chủ Nhật, 15 tháng 2, 2015

Tình mộng




Một đêm lạc bước địa đàng.
Phạm nhầm quả cấm mơ màng bóng ai.
Lâng lâng ta giọt tình say.
Nghiêng nghiêng em dải yếm lay phập phồng
Chập chờn như có, như không.
Vẫn yêu như thể chờ mong lâu rồi.
Dẫu xót xa, dẫu ngậm ngùi
Thoáng qua thôi cũng làm vui trong đời.
Đêm Thiên Thai ta chơi vơi.
Phải đâu Lưu, Nguyễn mù khơi lối về.
Vòng tay ngây ngất đê mê.
Xua tan cơn gió lạnh tê tái lòng.
Đong đưa  hồn phách phiêu bồng.
Nụ hôn cuồng nhiệt em nồng nàn trao.
Hoa đăng là vạn vì sao.
Sương tan là giọt rượu đào thấm môi.
Còn nghe xao xuyến bồi hồi.
Giật mình tỉnh mộng, đất trời vào xuân.


Ngô Chí Trung

Những ngày cuối năm Giáp Ngọ 2014.

Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015

Đất nước mùa xuân



Mẹ Âu Cơ trong mùa xuân huyền thoại
Sinh trăm con Lạc Việt họ Hồng Bàng
Khởi giềng mối các vua Hùng lập quốc
Trống đồng khua vang vọng nước Văn Lang.

Thương đất nước buổi bình minh lịch sử
Chống xâm lăng sức Phù Đổng vươn mình
Thương dân tộc trải dông cuồng lũ dữ
Núi Tản Viên sừng sững dáng Sơn Tinh

Bởi Thục Phán lầm tin lời hảo hữu
Mất nỏ thần đành trầm xác biển sâu
Cổ Loa thành ôm hờn thay đổi chủ
Bài học đời chẳng riêng với Mỵ Châu

Đã bao lần giặc đến từ hướng biển
Bạch Đằng Giang nổi sóng dựng thành đồng
Tổ quốc cũng đôi phen chồn ngựa đá (*)
Trống đồng rung khiếp vía lũ Nguyên Mông

Khi Nguyễn Trãi tiễn cha nơi ải Bắc
Đã định hình bản kế sách bình Ngô
Giúp Lê Lợi mười năm trường đuổi giặc
Giành non sông phục quốc dựng cơ đồ

Nhớ chiến thắng một mùa xuân Kỷ Dậu
Máu xâm lăng đỏ khé nước sông Hồng
Còn phảng phất bóng anh hùng Nguyễn Huệ
Trong sắc đào rực rỡ đất Thăng Long

Vâng sắc chỉ theo ông cha thuở trước
Đội hùng binh Bắc Hải đến Hoàng Sa
Cấm cột mốc giữa chập trùng sóng nước
Có Trường Sơn mong ngóng hướng Trường Sa



Xuân đại thắng non sông liền một dải
Mũi Cà Mau ngược đến Ải Nam Quan
Nhịp Hiền Lương nối đôi bờ Bến Hải
Sóng Hồng Hà vỗ gọi Cửu Long Giang

Các thế hệ dẫu thành người thiên cổ
Vẫn truyền đời món nợ cũ Hoàng Sa
Phải đòi lại dù sóng cuồng bão tố
Mãi trường tồn trời, đất, biển quê ta.

                Ngô Chí Trung

(*) Ý câu thơ “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã” của Trần Nhân Tông.





Thứ Hai, 19 tháng 1, 2015

Nha Mân quê tôi


Từ Thành phố Hồ Chí Minh về miền Tây, qua cầu Mỹ Thuận rẻ phải là khởi điểm của quốc lộ 80 đi hướng thành phố Sa Đéc, sẽ ngang qua Nha Mân, quê tôi.

Nha Mân, gối đầu lên một nhánh bên hữu ngạn sông Tiền, và duỗi mình về hướng Sông Hậu. Từ thời Pháp cai trị đến năm 1955, thuộc quận Châu Thành, tỉnh Sa Ðéc. Năm 1956 đến năm 1965, Sa Ðéc trở thành quận  thuộc tỉnh Vĩnh Long . Ngày 24-9-1966 tỉnh Sa Đéc được tái lập, Nha Mân thuộc xã Tân Nhuận Đông, quận Ðức Tôn. Sau ngày 30-4-1975 hợp nhất hai tỉnh Kiến Phong và Sa Đéc thành tỉnh Đồng Tháp thì quận Đức Tôn đươc đổi lại thành huyện Châư Thành, huyện lỵ đặt tại thị trấn Cái Tàu Hạ.

Trước đây trụ sở xã cạnh đầu cầu Nha Mân (phía Sa Đéc), sát đường liên tỉnh số 8 Vĩnh long–Sa đéc–Vàm cống (nay là quốc lộ 80). Hiện tại, trụ sở mới di dời về tỉnh lộ 854 (phía Mỹ Thuận), cách quốc lộ 80 khoảng 300m. Tôi không biết địa danh Nha Mân do đâu mà có, và ranh giới từ đâu đến đâu nữa. (Theo di cảo của Trương Vĩnh Ký là do tiếng Oknà Mẳn. Tuy nhiên cũng có người cho rằng là do Oknà Muôl vì nó gần với âm nha mân hơn. Oknà hay Oknha là một quan chức của người Khmer/Chân Lạp có quyền cai quản một trấn, một hạt). Chỉ biết là con sông trải dài theo quê tôi có tên là Nha Mân. Không biết có phải do vậy mà tên Nha Mân trở thành miền quê này hay không? Nhưng về mặt hành chánh từ xa xưa, thì Nha Mân là xã Tân Nhuận Ðông do sự kết hợp 3 làng Phú Nhuận, Tân Hựu, và Tân Hựu Ðông khoảng năm 1940 hay 1941 gì đó.

Và cho dù tên hành chánh của xã có là gì đi nữa, thì Nha Mân vẫn là cái tên rất thân thương đối với những người sinh sống trên vùng đất hiền hòa và trù phú này, một vùng đất được dòng phù sa bồi đắp quanh năm, nhất là vào mùa nước dâng cao từ thượng nguồn sông Mékong đổ xuống. Sông Nha Mân, bắt đầu từ một nhánh của Sông Tiền (còn gọi là Tiền Giang), rồi quanh co uốn khúc như hằng trăm con sông khác, góp phần tạo nên hệ thống sông rạch trên miền quê thân thương của vùng đất "cù lao" giữa Sông Tiền với Sông Hậu.

Phần cuối của sông Nha Mân, nối vào rạch Ba Càng (trên đường Vĩnh Long-Cần Thơ) và ra Sông Hậu, ngang chợ Cần Thơ. Dọc bờ trái sông (từ cầu Nha Mân vào) có nhiều rạch nhỏ. Những rạch này cách nhau từ vài trăm thước đến vài cây số. Rạch đầu tiên có tên là Rạch Chùa Ong Chim. Sở dĩ con rạch có tên Chùa Ong Chim là vì khoảng giữa rạch, có chùa Hội Phước, xây cất vào cuối thế kỷ 19, và được xem là một trong những ngôi chùa lâu đời nhất của đồng bằng Cửu Long. Theo lời những người cao tuổi kể lại, xưa kia, quanh chùa vắng vẻ, khuôn viên chùa có nhiều cây cổ thụ, ong và chim về làm tổ rất nhiều.

Khỏi rạch Chùa Ong Chim khoảng 500 thước là rạch Bà Thiên. Từ vàm rạch, có nhiều nhà khá giả với những ngôi nhà nền đúc cao, vách tường hoặc vách ván, lợp ngói. Rồi đến rạch Cầu Xoay, nhưng bà con quen gọi là Cầu Xây, vì cây cầu lúc mới xây dựng "xoay được 1/4 vòng tròn" để ghe lớn chở lúa ra vào rạch. Xa khoảng 2 cây số nữa, sẽ đến Chợ Dinh, và cạnh đó là rạch Ông Ðại. Khoảng giữa Cầu Xây với Chợ Dinh, trước đây có nhiều ngôi nhà nền đúc theo kiểu xưa, của những vị đại điền chủ.

Cứ tiếp tục theo bờ trái sông Nha Mân, bà con sẽ đến Rạch Tre. Tại sao có tên Rạch Tre thì tôi không biết, chỉ biết rằng, trong rạch này có ngôi chùa Thiên Phước mà ngày xưa chung quanh là hàng rào tre bao bọc. Qua khỏi Rạch Tre là Ngã Ba sông, tên địa phương là Ngã Ba Tân Hựu. Nếu rẽ phải là lên Bình Tiên, và từ đây theo dòng nước về Rạch Rắn, rẽ phải sẽ ra đến chợ Sa Ðéc. Cũng từ Ngã Ba Tân Hựu, nếu đi thẳng, bà con sẽ đến rạch Cái Ngổ, chính nơi đây là quê nội tôi. Con rạch có tên chính thức ghi vào bản đồ hành chánh là Cái Ngổ, nhưng người dân thường đọc trại ra thành Cả Ngổ (cũng như nhiều địa danh Cái Xép, Cái Tàu Hạ, Cái Gia… bị gọi trại ra là Cả Xép, Cả Tàu, Cả Gia…).
Nơi đây, ngày xưa nổi tiếng về những nhà giàu với những vườn cam, quít, xoài, bưởi. Ðoạn sông này bắt đầu hẹp bề ngang khi qua khỏi Ngả Ba Tân Hựu. Tiếp tục đi sâu vào sông Nha Mân, sẽ là Rạch Chùa và ngay tại vàm rạch này cũng có ngôi chùa tên là chùa Thiên Thọ. Qua khỏi Rạch Chùa là Rạch Gia. . Một đoạn nữa là Rạch Cầu.
Ngọn Rạch Cầu thông xuống một nhánh của ngọn sông Cái Tàu Hạ. Gần Rạch Cầu là rạch Bằng Lăng, cũng là ranh giới hành chánh giữa hai xã Tân Nhuận Đông và Hòa Tân. Cách đó không xa là rạch Mương Khai, khu vực này là xã Hòa Tân do sự kết hợp xã Hòa Hưng và Tân Hựu Trung cùng khoảng thời gian hình thành xã Tân Nhuận Ðông, cũng thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Tiếp tục về hướng ngọn sông Nha Mân là Xẻo Mát, với đoạn sông càng lúc càng hẹp bề ngang, cho đến cuối ngọn thì thông vào rạch Ba Càng thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Nha Mân trước chiến tranh (tức giữa năm 1945 về trước), bờ trái sông Nha Mân có đường trải đá vào đến Hòa Tân. Lề đường bên phải - tức phía bờ sông - có hàng cây me ăn trái. Những cây này trồng theo khoảng cách đều nhau và cùng lứa với nhau, nên tán cây cùng cỡ, trông như những cái nấm khổng lồ dọc hành trình thủy bộ. Cũng theo lời những người cao tuổi, mùa me vừa chín, đám trai trẻ trong làng thường "ăn cắp" chấm muối, ngon ơi là ngon. Nói "ăn cắp", vì hàng me dọc lề đường Nha Mân - Hòa Tân là tài sản của Xã, và hằng năm Ban Hội Tề xã đấu thầu bán cho những ai trả giá cao nhất.

Vào thời Pháp thuộc, Hội Tề hay Hội Ðồng Hương Chức (về sau gọi là Ủy Ban Hành Chánh xã) theo thứ tự từ cao xuống thấp: Hương cả, Hương chủ, Hương sư, Hương trưởng, Hương chánh, Hương giáo, Hương quản, Hương bộ, Hương thân, Hương hào, Xã trưởng, và Chánh lục bộ. Hương Cả là vị đứng đầu Ban Hội Tề với vị phụ tá là Hương Chủ, và 2 vị cố vấn là Hương Sư, Hương Trưởng. Hương Chánh trông coi đường sá cầu cống. Hương Giáo trách nhiệm về trường học. Hương Quản lo về an ninh trật tự. Hương Bộ ghi chép và lưu giữ sổ bộ của làng. Ba vị Hương Thân, Hương Hào, và Xã Trưởng, hợp lại thành Ban Chấp Hành thường trực điều hành công việc của Xã. Riêng Xã Trưởng có thêm trách nhiệm thuế má. Chánh Lục Bộ trách nhiệm về bộ đời, như: khai sanh, khai tử, lập hôn thú,...

Hằng ngày có xe đò loại nhỏ, chạy đường Sa Ðéc - Nha Mân - Hòa Tân, và ngược lại. Từ hàng cây me ra đến bờ sông, còn một khoảng cách chừng 5 thước, (nay đất đã lở sụt xuống sông, con đường hiện tai gọi là tỉnh lộ 854 trải nhựa mới làm sau nầy). Ðồng thời, trên sông Nha Mân có "đò máy" chở khách, xuôi ngược trên thủy trình Xẻo Mát –Hòa Tân - Ngã Ba -     Nha Mân.

Ðó là phương tiện chuyên chở công cộng. Ngoài ra, bà con trong làng còn có phương tiện di chuyển riêng là ghe, xuồng, xe đạp (thuở đó nông thôn chưa có xe mô tô hay xe gắn máy), và vài xe du lịch của khu nhà giàu gần chợ Dinh. Ngay vàm rạch Ông Ðại, có ông bà chủ hãng xe đò Tân Phát chạy đường Sa Ðéc - Sài Gòn.

Vì vậy mà những chiếc xe loại 40 chỗ ngồi, sơn màu vàng, thường ra vào đường này, và mặt đường đủ rộng cho hai xe xuôi ngược. Chợ Nha Mân xưa được xây cất giống như những chợ nông thôn miền Nam. Ðó là ngôi chợ hai mái thoai thoải về hai dãy phố trệt buôn bán bên hông chợ.

Chung quanh có trải đá lởm chởm. Họa đồ tổng thể của khu chợ, gồm: Nhà chợ, dành cho những gian hàng áo quần vải vóc, tạp phẩm, quày thịt, trái cây. Hai dãy phố hai bên, là những tiệm tạp phẩm, tiệm thuốc bắc.

Phía hướng ra bờ sông, là nơi dành cho người mua gánh bán bưng trong những giờ "nhóm chợ". Sau khi "tan chợ" thì sân này trống trơn. Bờ sông là bến đậu cho ghe xuồng, có chiếc cầu ván mặt rộng dành cho "đò máy" cặp vào để khách lên xuống. Đối diện chợ (bên kia quốc lộ 80) là "Nhà Việc" (sau này gọi là trụ sở xã) nơi mà Ban Hội Tề (sau này là Ủy Ban Hành Chánh xã) điều hành những công việc của xã Tân Nhuận Ðông. Hiện nay, chỗ nầy là nhà máy nước

- Một bến xe nhỏ, vừa đủ cho vài xe hành khách trên đường Nha Mân - Sa Ðéc đậu chờ khách. Vị trí của chợ gần bờ sông, cạnh đầu cầu Nha Mân phía Sa Đéc. Chợ nhóm mỗi ngày, từ khoảng 3 giờ sáng đến khoảng 10 giờ trưa và lác đác đến 1-2 giờ trưa thì tan, nhưng những gian hàng trong nhà chợ thì buôn bán suốt ngày.

Ngôi trường  tiểu học trước đây toạ lạc tại Đình Thần Tân Nhuận Đông, gần Vàm Sông Nha Mân.

Hằng năm, người Nha Mân có 3 lễ hội lớn, là: Tết Nguyên Ðán, cúng đình, và cúng rằm tháng 7 âm lịch tại các chùa…

Trong trí nhớ của tôi thuở bé, chắc chắn rằng, vui Tết ở thành phố không thể nào sánh bằng nông dân Nha Mân vui Tết được. Nha mân vui Tết trong không khí sum vầy của anh em con cháu khắp nơi trở về, quây quần bên nhau, và cùng nhau ăn những món ăn đậm đà hương vị của những ngày đầu năm, như: bánh tét bánh ích, bánh tráng bánh phồng, dưa cải, củ kiệu, cá thịt kho, mứt dừa mứt bí, mứt khoai mứt gừng. Rồi tiếng pháo tiểu lạch tạch pha lẫn tiếng pháo đại đì đùng đó đây trong xóm.

Trong những ngày Tết, đường đi dọc hai bờ rạch lúc nào cũng nườm nượp kẻ vào trong ngọn người ra ngoài vàm. Gặp nhau, hầu như không ai hà tiện nụ cười kèm theo lời "chúc mừng năm mới". Chiều 30 Tết, nhà nào cũng có mâm cơm "cúng đón ông bà", đồng thời "dựng cây nêu" tượng trưng bắt đầu vui Tết. Ðến Mồng 7 Tết mới hạ nêu, có nghĩa là thuở ấy vui Tết đến 7 ngày. Ban đêm, mọi nhà đều đốt đèn treo trên các thân cây dọc theo đường đi trước nhà để cung cấp ánh sáng cho người người đi lại vui xuân.

Tùy theo đoạn đường chạy ngang trước nhà dài hay ngắn, mà số đèn treo có thể từ 5 đến 10 chiếc. Ðó là những chiếc đèn dầu loại nhỏ làm bằng thiếc, được gọi là "đèn bánh ú" vì nó có hình dáng tựa như cái bánh ú. Tim đèn cao để chịu được gió ở tốc độ thông thường. Giữa đêm, người nhà phải châm thêm dầu hoặc đốt lại ngọn đèn đã tắt. Tết Nha Mân về đêm, với những ánh lửa lập lòe ở khoảng cách không đều nhau, cao thấp cũng chênh lệch nhau, và chính "ánh sáng đèn đường" này đã góp phần tạo nên cái dáng vẻ của người Nha Mân mừng xuân là vậy.

Trong chiến tranh, xã Tân Nhuận Đông cũng như nhiều vùng quê trên đất nước bị đạn bom tàn phá, Ngày nay, Nha Mân cùng nhân dân xã Tân Nhuận Đông chung tay xây dựng nông thôn mới tươi đẹp hơn. Chương trình thắp sáng đường quê đã đem ánh sáng điện về thay thế cho những chiếc đèn bánh ú ngày xưa. Đời sống người dân được nâng cao và hạnh phúc trong cảnh thanh bình. Những chiếc máy gặt đập liên hợp cộng với tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp đã giúp giảm bớt nỗi nhọc nhằn cho nông dân một thời hai sương một nắng.

Tôi là người đã từng đi qua chiến tranh, thấu hiểu nỗi niềm đau thương mất mát. Tôi yêu quê hương tôi. Tôi tin các thế hệ mai sau cũng yêu quê hương Nha Mân và trân trọng gìn giữ cảnh bình yên như hôm nay bằng mọi giá.



Ngô Chí Trung
 19-01-2015

Thứ Năm, 15 tháng 1, 2015

Tự sự cuối năm




Trên đời có một thằng tôi.
Ương ương dở dở, lôi thôi, làng nhàng.
Không thầy cũng chẳng phải quan.
Lê la ngày tháng say tràn cung mây.
Bạn bè Nam-Bắc-Đông-Tây.
Khề khà cái lẽ vơi đầy thế nhân.
Quê nhà tại xứ Nha Mân.
(Nha Mân – Sa Đéc cũng gần đấy thôi).
Vợ thường ca cẩm xa xôi:
-"Dài lưng tốn vải, đứng ngồi vẩn vơ.
Đèo bòng tập tọng làm thơ.
Gieo câu lục bát ầu ơ ví dầu".
Thưa rằng: -" Tôi chẳng ham đâu.
Chẳng qua số kiếp cơ cầu đa mang.
Trót sinh giữa cõi trần gian.
Phải kêu tích tịch tình tang với đời".

Trang thơ, bút, mực…sẵn rồi.
Nối vòng tay lớn đón mời tri âm.


                           Ngô Chí Trung
                      Nha Mân 15-01-2015
              Những ngày cuối năm Giáp Ngọ.
(Đã in trong tập thơ TÌNH NẮNG, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn - tháng 4/2016).

Thứ Hai, 29 tháng 12, 2014

DỖ DÀNH






(Yêu nhau cau bảy bổ ba,
      Ghét nhau cau bảy bổ ra làm mười.)
                                            Ca dao.

Cũng đành lòng vậy thôi em.
Bỏ ngoài tai những lời gièm tiếng pha.
Yêu nhau cau bảy bổ ba.
Thị phi là chuyện người ta thường tình.
Em giận, nét mặt mất xinh.
Em vui, dáng vẻ càng nhìn càng tươi.
Cau bảy chớ bổ làm mười.
Dỗi làm chi để… nụ cười hắt hiu.
Em hờn, anh cũng buồn thiu.
Nghe lòng thắc thỏm sớm chiều ngẩn ngơ.

Anh xin, chớ giận vu vơ.
Em hờn dỗi khiến vần thơ nát nhàu.
Thôi em! Đừng dỗi hờn nhau.
Để yêu thương mãi tuôn trào thành thơ.

                                   Ngô Chí Trung
                                      29-12-2014
(Đã in trong tập thơ Tình Nắng, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn , 2016)



Thứ Bảy, 29 tháng 11, 2014

Chim hót trong lồng




Con chim buồn xếp cánh.
                                         Ngơ ngác trong lồng son.
Đứng bên đời hiu quạnh.
Khoảnh trời riêng bé con.
*
Chim lười buông giọng hót.
Nhìn trời xanh bâng quơ.
Âm thanh còn lảnh lót?
Phận chim lồng bơ vơ.
*
Từng một thời tung cánh.
Lướt gió mây đại ngàn.
Khoảng không gian lồng lộng.
Bốn phương trời thênh thang.
*
Nhớ nhung hoài một thuở…
Bình minh lên huy hoàng.
Tiếng chim kêu rộn rã.
Vút cao lời hót vang.
*
Khi rừng xưa đã khép.
Lối cũ mù xa xăm.
Dông bão đời xao động.
Gió mưa về lạnh căm.
*
Triền miên niềm đau xót.
Tiếc một thời xưa xa.
Chim buồn lơi giọng hót.
Trong lồng son xa hoa.

                   Ngô Chí Trung
                     27-11-2014


Thứ Năm, 27 tháng 11, 2014

HỎI...?



Hỏi rừng mấy tuổi rừng già.
Hỏi nước muôn thuở sao là nước non
Hỏi trăng khi khuyết khi tròn.
Hỏi trời lúc nắng lại còn lúc mưa.
Hỏi thời gian nẻo nào xưa.
Hỏi ân tình cũ hương thừa có phai.
Hỏi lòng mấy nỗi đắng cay.
Hỏi trong kỷ niệm hình hài em đâu.
Hỏi đời bao cuộc bể dâu.
Hỏi ta bạc trắng mái đầu, già chưa?

                       Ngô Chí Trung
                     27-11-2014